I. GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ WIMAX
WiMAX là tên thương mại của chuẩn IEEE 802.16. Ban đầu chuẩn này được tổ chức IEEE đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề kết nối cuối cùng trong một mạng không dây đô thị WMAN hoạt động trong tầm nhìn thẳng (Line of Sight) với khoảng cách từ 30 tới 50 km. Nó được thiết kế để thực hiện đường trục lưu lượng cho các nhà cung cấp dịch vụ Internet không dây, kết nối các điểm nóng WiFi, các hộ gia đình và các doanh nghiệp….đảm bảo QoS cho các dịch vụ thoại, video, hội nghị truyền hình thời gian thực và các dịch vụ khác với tốc độ hỗ trợ lên tới 280 Mbit/s mỗi trạm gốc. Chuẩn IEEE 802.16-2004 hỗ trợ thêm các hoạt động không trong tầm nhìn thẳng tại tần số hoạt động từ 2 tới 11 GHz với các kết nối dạng mesh (lưới) cho cả người dùng cố định và khả chuyển. Chuẩn mới nhất IEEE 802.16e, được giới thiệu vào ngày 28/2/2006 bổ sung thêm khả năng hỗ trợ người dùng di động hoạt động trong băng tần từ 2 tới 6 GHz với phạm vi phủ sóng từ 2 - 5 km. Chuẩn này đang được hy vọng là sẽ mang lại dịch vụ băng rộng thực sự cho những người dùng thường xuyên di động với các thiết bị như laptop, PDA tích hợp công nghệ WiMAX.
1. Khái quát về phân lớp giao thức trong IEEE 802.16
a) Lớp vật lý
WiMAX sử dụng công nghệ OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplex). Ưu điểm quan trọng của OFDM là khả năng mang lại hiệu suất băng thông cao hơn và do đó thông lượng dữ liệu sẽ cao hơn ngay cả khi hoạt động trong môi trường kết nối NLOS (None Line of Sight) hay điều kiện đa đường. Trong chuẩn IEEE 802.16-2004, tín hiệu OFDM được chia thành 256 sóng mang, còn chuẩn IEEE 802.16e sử dụng phương thức SOFDMA (Scalable Orthogonal Frequency Division Multiple Access). Chuẩn IEEE 802.16 hỗ trợ một phạm vi rộng các tần số hoạt động và lớp vật lý có thể thực hiện một vài phương thức điều chế và ghép kênh. Phương thức điều chế tại đường xuống và đường lên có thể là BPSK, QPSK, 16-QAM hoặc 64 QAM.
Chuẩn IEEE 802.16 hỗ trợ cả 2 phương thức song công là TDD và FDD. Trong cơ chế TDD, khung đường xuống và đường lên chia sẻ một tần số nhưng tách biệt về mặt thời gian. Trong FDD, truyền tải các khung đường xuống và đường lên diễn ra cùng một thời điểm, nhưng tại các tần số khác nhau.
Độ dài khung có thể là 0.5, 1, 2ms. Trong TDD, phần khung được chỉ định cho đường xuống và phần khung chỉ định cho đường lên có thể có độ dài khác nhau. Đường lên sử dụng phương thức đa truy nhập TDMA, ở đó băng thông được chia thành các khe thời gian. Mỗi một khe thời gian được chỉ định cho một MS (trạm di động) riêng lẻ đang được BS (trạm gốc) phục vụ. Một khung con đường xuống thường chứa 2 phần. Một phần dành cho thông tin điều khiển, chứa mào đầu nhằm đồng bộ và ánh xạ khung và các dữ liệu khác. Một ánh xạ đường xuống (DL_MAP) ấn định vị trí bắt đầu và các thuộc tính truyền dẫn của các cụm dữ liệu. Một ánh xạ đường lên (UL_MAP) chứa thông tin chỉ định băng thông dành cho trạm di động SS.

Hình 1 - Lớp giao thức trong IEEE 802.16
b) IEEE 802.16 MAC
Lớp MAC bao gồm 3 lớp con: Lớp con hội tụ dịch vụ chuyên biệt (MAC CS), lớp con phần chung (MAC CPS) và lớp con bảo mật. MAC CS có 2 loại lớp con: lớp con hội tụ ATM, và lớp con hội tụ gói dành cho các dịch vụ dữ liệu dạng gói ví dụ như Ethernet, PPP, IP và VLAN. Chức năng cơ bản của lớp CS là nhận dữ liệu từ lớp cao hơn, phân loại dữ liệu dạng ATM hay dạng gói và chuyển các khung này tới lớp CPS.

Hình 2 – Chi tiết phân lớp MAC trong IEEE 802.16
Phần lõi của lớp MAC IEEE 802.16 là MAC CPS, định nghĩa tất cả các quản lý kết nối, phân phối băng thông, yêu cầu và cấp phát, thủ tục truy nhập hệ thống, lập lịch đường lên, điều khiển kết nối và ARQ. Truyền thông giữa CS và CPS được các điểm truy nhập dịch vụ MAC (MAC SAP) duy trì. Thiết lập, thay đổi, xóa kết nối và truyền tải dữ liệu trên các kênh là bốn chức năng cơ bản trong quá trình truyền thông tại lớp này.
Lớp con bảo mật thực hiện mã hóa dữ liệu trước khi truyền đi và giải mã dữ liệu nhận được từ lớp vật lý. Nó cũng thực hiện nhận thực và trao đổi khóa bảo mật. Chuẩn IEEE 802.16 ban đầu sử dụng phương pháp DES 56 bit cho mã hóa lưu lượng dữ liệu và phương pháp mã hóa 3-DES cho quá trình trao đổi khóa. Trong mạng IEEE 802.16, trạm gốc chứa 48 bit ID nhận dạng trạm gốc (chú ý rằng đây không phải là một địa chỉ MAC), còn SS có 48 bit địa chỉ MAC 802.3. Có 2 giao thức chính hoạt động trong lớp con bảo mật: giao thức mã hóa dữ liệu thông qua mạng băng rộng không dây, và giao thức quản lý khóa bảo và bảo mật (PKM- Privacy and Key Management Protocol) đảm bảo an toàn cho quá trình phân phối khóa từ BS tới SS. Nó cũng cho phép BS đặt điều kiện truy nhập cho các dịch vụ mạng. Giao thức PKM sử dụng thuật toán khóa công khai RSA, chứng thực số X.509 và thuật toán mã hóa mạnh để thực hiện trao đổi khóa giữa SS và BS. Giao thức bảo mật này dựa trên giao thức PKM của DOCSIS BPI+ đã được cải tiến để cung cấp một lược đồ mã hóa mạnh hơn như chuẩn mã hóa cải tiến AES.
MAC trong IEEE 802.16 là phân lớp hướng kết nối, được thiết kế cho các ứng dụng truy nhập không dây băng rộng theo cấu hình điểm đa điểm (PMP), hay dạng mesh. Có hai loại kết nối MAC được xác định bởi 16 bit nhận dạng kết nối CID là: Các kết nối quản lý và Các kết nối vận chuyển dữ liệu. Các kết nối quản lý lại gồm 3 loại: cơ sở, sơ cấp và thứ cấp trong đó cơ sở sử dụng cho truyền tải, điều khiển liên kết vô tuyến...,còn sơ cấp liên quan đến thiết lập nhận thực và kết nối, và kết nối quản lý thứ cấp là các bản tin quản lý dựa trên chuẩn truyền tải như DHCP, TFTP, SNMP. Kết nối quản lý sơ cấp và kết nối cơ sở được tạo ra khi một MS/SS ra nhập vào một BS phục vụ của mạng. Kết nối vận chuyển dữ liệu có thể được thiết lập dựa trên nhu cầu. Chúng được sử dụng cho các luồng lưu lượng người sử dụng, các dịch vụ đơn hướng (Unicast) và đa hướng (Multicast). Các kênh bổ sung cũng được MAC dự trữ để gửi ra ngoài các thông tin lập lịch đường xuống và đường lên.
Các thành phần cơ bản của mạng là trạm gốc BS và trạm thuê bao SS (Subscriber Station), trạm gốc BS giống như các điểm truy nhập (AP) trong mạng WiFi. BS được nối với phần hữu tuyến, nó phát quảng bá các thông tin tới SS. Khác với phương pháp CSMA/CA trong 802.11, 802.16 sử dụng các ánh xạ đường xuống và đường lên để khắc phục xung đột trong môi trường truy nhập. SS sử dụng phương thức truy nhập TDMA để chia sẻ đường lên trong khi BS sử dụng phương thức TDM. Tất cả các chức năng này được thực hiện thông qua bản tin DL_MAP và UL_MAP.
Khuôn dạng bản tin MAC
Đơn vị giao thức dữ liệu MAC (MPDU) chứa các bản tin trao đổi giữa BS MAC và SS MAC. Nó có 3 phần: Một Header MAC có độ dài cố định, header này chứa thông tin điều khiển khung, một tải có độ dài thay đổi (Frame Body) và một giá kiểm tra tuần tự khung (FCS – Frame Check Sequence) chứa 32 bit CRC.
Các loại MAC Header là: đơn vụ dữ liệu dịch vụ MSDU (MAC Service Data Unit) ở đây tải là các đoạn MAC SDU ví dụ như dữ liệu đến từ các lớp cao hơn (CS PDU), thứ 2 là Generic MAC Header (GMH), ở đây tải là các bản tin quản lý MAC hoặc các gói được đóng gói trong các MAC CS PDU, cả 2 MSPU và GMH đều được truyền trên các kết nối quản lý, thứ 3 là một BRH (Bandwidth Request Header) không có tải.
Ngoại trừ các Bandwidth Request PDU, các MAC PDU có thể chứa bản tin quản lý MAC hoặc dữ liệu lớp con hội tụ - MSDU. Với GMH và MSDU, bit HT (Header Type) luôn luôn được thiết lập là 0 (Zero) trong khi BRH luôn luôn được đặt là 1. MAC Header có chứa một cờ, chỉ ra loại tải của PDU có được mã hóa hay không.
Hình 3 – Khuôn dạng bản tin MAC
Trong chuẩn IEEE 802.16-2001, MAC Header và tất cả các bản tin quản lý MAC không được mã hóa. Quy định này tạo sự đơn giản cho quá trình đăng ký, tranh chấp và các hoạt động khác tại lớp con MAC. Trong chuẩn mới nhất của tổ chức IEEE 802.16e, các tải của MAC PDU được mã hóa theo chuẩn DES theo cơ chế CBC, hoặc AES trong cơ chế CCM. Phiên bản bổ xung IEEE 802.16e cũng đưa ra một kỹ thuật bảo toàn tính nguyên vẹn lưu lượng dữ liệu.
Liên kết bảo mật SA
SA (Security Association) chứa các thông tin về bảo mật của một kết nối: tức là các khóa và các thuật toán mã hóa được lựa chọn. Các kết nối quản lý cơ sở và sơ cấp không có SA. Tuy vậy, tính nguyên vẹn của bản tin quản lý vẫn được đảm bảo. Kết nối có quản lý thứ cấp có thể có SA. Các kết nối vận chuyển luôn chứa SA. Có 2 loại SA là DSA (Data SA) và ASA (Authentication SA), tuy nhiên IEEE 802.16 chỉ định nghĩa rõ ràng DSA. SA - liên kết bảo mật được nhận dạng bằng SAID.
DSA
DSA (Data Security Association) có 16bit nhận dạng SA, thông tin phương thức mã hóa (chuẩn mã hóa cải tiến DES hoạt động theo cơ chế CBC) nhằm bảo vệ dữ liệu khi truyền chúng trên kênh truyền và 2 TEK (Traffic Encrytion Key) để mã hóa dữ liệu: một khóa TEK đang hoạt động và một khóa dự phòng. Mỗi TEK sử dụng một véc tơ khởi tạo IV 64bit. Thời gian sống của một TEK nằm trong khoảng từ 30 phút tới 7 ngày. Có 3 loại DSA là: Primary SA được sử dụng trong quá trình khởi tạo liên kết, Static SA đã được cấu hình trên BS và Dynamic SA được sử dụng cho các kết nối vận chuyển khi cần. Primary SA được chia sẻ giữa MS và BS đang phục vụ nó. Static SA và Dynamic SA có thể được một vài MS chia sẻ trong hoạt động Multicast. Khi thực hiện kết nối, đầu tiên SA khởi tạo một DSA bằng cách sử dụng chức năng yêu cầu kết nối. Một SS thông thường có 2 hoặc 3 SA, một cho kết nối quản lý thứ cấp, một cho kết nối cho cả đường lên và đường xuống, hoặc sử dụng các SA tách biệt cho kênh đường lên và đường xuống. BS đảm bảo rằng mỗi SS chỉ có thể truy nhập bằng SA mà nó cấp riêng cho SS.
SA chứng thực
SA chứng thực (ASA-Authentication SA) bao gồm một khóa cấp phép dài 60 bit (AK) và 4 bit nhận dạng AK. Thời gian sử dụng của AK thay đổi từ 1 tới 70 ngày. Khóa mã hóa khóa KEK (Key Encryption key) sử dụng thuật toán 3 DES 112bit cho các TEK phân phối (Temporal encryption key) và một danh sách các DSA cấp phép. Khóa HMAC đường xuống DL và đường lên UL (Hash function-based message authentication code) được sử dụng để nhận thực dữ liệu trong các bản tin phân phối khóa từ BS tới SS và SS tới BS. Trạng thái của một SA chứng thực được chia sẻ giữa một BS và một SS thực tế. Các BS sử dụng SA chứng thực để cấu hình các DSA trên SS.

Hình 4 – Nhận thực trong IEEE 802.16
Quá trình nhận thực như sau: SS sử dụng chứng chỉ X.509 (trong đó có chứa khóa công khai của MS) để trao đổi các khả năng bảo mật với BS. Sau đó BS tạo ra AK và gửi nó tới MS, AK này được mã hóa bằng khóa công khai của MS sử dụng lược đồ mã hóa công khai RSA. Quá trình nhận thực hoàn thành khi cả SS và BS đều sở hữu AK. Quá trình nhận thực được minh hoạ như Hình 4.
Trao đổi khóa dữ liệu (Data Key Exchange)
Sau khi nhận thực thành công, MS và BS sẽ sử dụng AK để tạo ra các khóa mã hóa khóa KEK, hoặc để tạo ra các khóa mã nhận thực bản tin băm HMAC (Hashed Message Authentication Code). Khóa HMAC được sử dụng để phục vụ cho quá trình tạo và xác thực các bản tin quản lý MAC. Còn KEK được sử dụng để bảo vệ các khóa mật mã lưu lượng TEK (Traffic Encryption Key). Khóa TEK là khóa dùng để mã hóa dữ liệu, TEK được BS tạo ra.
TEK được thuật toán 3-DES (sử dụng 112 bit khóa KEK), RSA (sử dụng khóa công khai của SS), và AES (sử dụng 128 bit khóa KEK) mã hóa. Bản tin trao đổi khóa được chứng thực bằng hàm HMAC-SHA1, nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn của bản tin và chứng thực AK.
Quá trình trao đổi khóa được minh họa như Hình 5.

Hình 5. Quá trình trao đổi khóa
II. MỘT SỐ LỖ HỔNG AN NINH TRONG WIMAX
1. Lớp vật lý và lớp con bảo mật
Trong chuẩn IEEE 802.16, các mối đe dọa an ninh bảo mật có thể xảy ra đối với cả lớp MAC và lớp vật lý. Lớp vật lý của mạng 802.16 dễ bị tấn công bởi các phương thức tấn công Jamming và Scrambling. Trong phương thức tấn công Jamming (tấn công theo kiểu chèn ép), kẻ tấn công tạo ra một nguồn nhiễu mạnh nhằm làm giảm dung lượng của kênh, vì thế dẫn đến tình trạng từ chối yêu cầu dịch vụ. Scrambling tương tự như tấn công Jamming, nhưng được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn hướng vào một khung đặc biệt, ví dụ như làm xáo trộn các bản tin điều khiển và các bản tin quản lý. Tấn công Jamming có thể phát hiện bằng các thiết bị phân tích phổ vô tuyến. Trong khi đó tấn công Scrambling khó phát hiện hơn do tính không liên tục của nó, nhưng vẫn có thể phát hiện bằng cách giám sát hiệu suất mạng. Hiện nay, các nghiên cứu về các phương thức tấn công Jamming và Scrambling đối với mạng IEEE 802.16 được công bố rộng rãi trên các tạp chí chuyên ngành trên thế giới.
Trong chuẩn IEEE 802.16, lớp con bảo mật có mục đích chính là bảo vệ các nhà cung cấp dịch vụ ngăn chặn việc ăn cắp dịch vụ, chứ không phải là bảo vệ những người sử dụng (NSD) dịch vụ. Rất dễ nhận thấy là lớp con bảo mật chỉ bảo vệ dữ liệu ở lớp 2 trong mô hình 7 lớp OSI, nó không đảm bảo mã hóa dữ liệu NSD đầu cuối – đầu cuối. Vả lại, nó không bảo vệ lớp vật lý, do đó ở đây cần phải bổ sung thêm các giải pháp để đảm bảo an toàn cho lớp vật lý và bảo mật cho các lớp cao hơn trong mạng.
Ăn cắp ID cũng là một mối đe dọa đáng quan tâm, kẻ tấn công sử dụng phương thức này nhằm ăn cắp địa chỉ phần cứng của một thuê bao nào đó rồi sử dụng cho thiết bị của mình. Địa chỉ này có thể bị đánh cắp qua giao diện không gian bằng cách thu lại các bản tin quản lý. Sử dụng phương thức này, kẻ tấn công có thể tạo ra một BS giả mạo hoạt động như một BS thật. Một hiểm họa điển hình khác nữa có thể xảy ra xuất phát từ cách thức tấn công Water Torture Attack (tấn công thác lũ), trong phương pháp này một kẻ tấn công gửi một loạt các khung làm tiêu hao năng lượng pin của máy thu. Thêm vào đó, kẻ tấn công với một bộ thu RF tại một vị trí thuận lợi có thể thu lại dữ liệu gửi qua môi trường không dây, do đó yêu cầu phải bổ sung thêm kỹ thuật bảo đảm tính tin cậy cho mạng.
Mạng dựa trên chuẩn 802.16a bổ sung thêm hoạt động theo cấu hình Mesh, điều này dẫn tới một mối đe dọa bảo mật mới khác, ví dụ như độ tin cậy của nút nhảy tiếp theo trong mạng Mesh do các kỹ thuật bảo mật hiện nay chưa thể giải quyết tốt được vấn đề này. Việc bổ sung hỗ trợ tính di động trong chuẩn IEEE 802.16e cũng sẽ tạo nhiều cơ hội cho các kẻ tấn công, khi mà vị trí vật lý của kẻ tấn công giờ đây không còn bị giới hạn, các bản tin quản lý lúc này sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn so với trong mạng IEEE 802.11. Do đó, cần phải đưa ra một giải pháp duy trì một kết nối tin cậy khi một SS di chuyển qua lại giữa các cell phục vụ.
Ngoài ra, với một bộ thu phát RF có cấu hình thích hợp, một kẻ tấn công có thể thiết lập một kênh vô tuyến RF, tạo ra các khung mới và đóng gói, biến đổi và truyền lại các khung. Vì vậy, thiết kế chuẩn cũng cần xây dựng một kỹ thuật chứng thực dữ liệu.
2. Nhận thực qua lại
Chỉ có hai loại chứng chỉ được định nghĩa trong chuẩn IEEE 802.16: chứng chỉ nhà sản xuất và chứng chỉ SS, không có chứng chỉ BS. Chứng chỉ nhà sản xuất cung cấp thông tin về nhà sản xuất của thiết bị 802.16. Đây có thể là một chứng chỉ tự xây dựng hoặc được một công ty thứ 3 đưa vào. Chứng chỉ SS cung cấp thông tin về một SS cụ thể, bao gồm cả địa chỉ MAC của nó. Nhà sản xuất thiết bị thường tự tạo ra một chứng chỉ cho SS trong quá trình sản xuất. Thông thường BS sử dụng khóa công khai tồn tại sẵn trong chứng chỉ nhà sản xuất để xác minh chứng chỉ của SS, từ đó xác minh tính xác thực của thiết bị. Thiết kế chuẩn cũng giả thiết rằng SS duy trì một khóa mật tương ứng với khóa công khai của nó được lưu giữ bí mật, không cho phép các kẻ tấn công có thể dễ dàng đoạt được chúng.
Sai lầm lớn của thiết kế bảo mật trong IEEE 802.16 chính là thiếu chứng chỉ BS. Mà chỉ chứng chỉ này mới giúp bảo vệ cho các máy trạm trước các các cuộc tấn công giả mạo hay tấn công Replay. Trong phương thức tấn công Replay, kẻ tấn công thực hiện việc tái sử dụng một cách bất hợp pháp một phần của thông tin có giá trị mà hắn thu được. Ví dụ, khi áp dụng vào mạng WiMAX, một kẻ tấn công khi sử dụng phương thức này hoàn toàn có thể đoạt lấy các bản tin có chứa thông tin về khóa HMAC và sử dụng lại khóa này cho mục đích tấn công của mình mà không cần phải chỉnh sửa bất cứ thông tin gì.
3. Bảo mật dữ liệu
IEEE 802.16 sử dụng thuật toán mã hóa DES-CBC để bảo mật dữ liệu, DES-CBS sử dụng một khóa DES có độ dài 56 bit và vectơ khởi tạo CBC-IV. Cơ chế CBC yêu cầu tạo một vectơ khởi tạo ngẫu nhiên nhằm đảm bảo an toàn cho phương thức này. Tuy nhiên, Theo Dr. Wongthavarawat, CBC-IV trong IEEE 802.16 là có thể đoán trước được, do CBC-IV=[tham số IV từ trao đổi TEK] XOR [trường đồng bộ hóa PHY], ở đây theo Jonhston và Walker (Intel) “Do vectơ khởi tạo SA là không đổi và công khai, đồng thời do trường đồng bộ hóa lớp vật lý thường lặp đi lặp lại và có thể đoán trước được, dẫn đến vectơ khởi tạo MPDU cũng có thể đoán trước được”. Không những thế, với tốc độ xử lý của các bộ tính toán ngày nay 56 bit khóa không còn đủ an toàn trước các cuộc tấn công nữa, do đó nó không còn đảm bảo tính tin cậy cho dữ liệu. Đây là một nhược điểm để kẻ tấn công nhằm vào để thực hiện các cuộc tấn công Bruce Force Attack nhằm khôi phục lại bản tin đã mã hóa. Ngoài ra, không có cơ chế phát hiện tính nguyên vẹn của dữ liệu sẽ làm tăng khả năng thực hiện các cuộc tấn công chủ động.
Chuẩn IEEE 802.16e bổ sung thuật toán bảo mật AES-CCM sử dụng khóa 128 bit (TEK) như một phương thức mã hóa dữ liệu mới, trong đó việc đảm bảo sự kiểm tra tính nguyên vẹn của bản tin và chống lại phương thức tấn công replay bằng cách sử dụng số PN (Packet Number). Phía phát xây dựng một lần duy nhất một sự ngẫu nhiên hóa mật mã cho mỗi gói, bảo đảm tính duy nhất và thêm vào kỹ thuật nhận thực dữ liệu.
5. Quản lý khóa
Chuẩn IEEE 802.16 cũng gặp phải vấn đề về giao thức quản lý khóa, đó là việc sử dụng không gian tuần tự khóa TEK của nó, nó sử dụng chỉ số để phân biệt các bản tin. Giao thức nhận dạng mỗi TEK bằng 2 bit chỉ số, sự xoay vòng chỉ số từ 3 về 0 trên mỗi lần tái tạo khóa thứ 4 tạo cơ hội cho các tấn công replay, vì vậy giả thiết cuộc tấn công replay xảy ra, SS chưa chắc đã phát hiện ra điều này. Johnston và Waker khẳng định “Chính phương thức tái sử dụng mật mã TEK và véc tơ khởi tạo trong mật mã, sẽ dẫn đến làm lộ cả TEK và dữ liệu”.
6. Các nhược điểm khác
Trong định nghĩa SA, một AK có thể kéo dài thời gian tồn tại tới 70 ngày, trong khi thời gian sử dụng một TEK có thể chỉ là 30 phút, điều này cho phép một kẻ tấn công xen vào các TEK đã sử dụng. Một DSA có thể dùng đến 3360 TEK trong thời gian sử dụng AK, như vậy cần tăng độ dài SAID tăng từ 2 tới ít nhất 12 bit. Theo như chuẩn IEEE 802.16 thì SS tin rằng BS luôn luôn tạo ra một AK mới, do đó bộ tạo số ngẫu nhiên của BS phải là lý tưởng nhất, nếu không AK và các TEK có thể bị lộ.
IEEE 802.16 không đề cập đến việc SS chứng thực BS, vì thế nhược điểm trong giao thức PKM này sẽ dễ bị lợi dụng cho các cuộc tấn công giả mạo. Ví dụ SS không thể xác định bất kỳ bản tin cấp phép nào mà nó nhận được là đến từ BS đã được cấp phép hay chưa, ở đây BS trả lời SS bằng thông tin công khai, vì vậy bất kỳ một BS giả mạo nào cũng có thể tạo ra được bản tin trả lời.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu kỹ thuật bảo mật là một quá trình lâu dài. Chuẩn mới nhất dành cho WiMAX, IEEE 802.16e mở ra cánh cửa mới cho tính di động trong mạng không dây, nhưng cũng làm tăng thêm các nguy cơ tấn công, bởi giờ đây kẻ tấn công không còn bị ràng buộc về vị trí nữa. Ở đây, có thêm nhiều vấn đề nảy sinh như việc quản lý khóa giữa các BS, roaming nhận thực người dùng. Hiện nay, các nhà cung cấp sản phẩm đã tung ra thị trường một số sản phẩm WIMAX, công nghệ này cũng đang được triển khai thử nghiệm. Do đó các tổ chức kinh doanh, các nhà cung cấp dịch vụ, các chuyên gia IT nên tìm hiểu kỹ càng các vấn đề bảo mật liên quan đến WIMAX trước khi triển khai công nghệ mới này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. David jonhston and Jesse Walker, Overview of IEEE 802.16 Security, IEEE Security & Privacy, May/June, 2004.
[2]. Jamshed Hasan, Security Issues of IEEE 802.16 (WiMAX), School of Computer and Information Science, Edith Cowan University, Australia.
[3]. Dr. Kitti Wongthavarawat, IEEE 802.16 WiMAX Security, Thai Computer Emergency Response Team (ThaiCERT) National Electronics and Computer Technology Center Thailand, 2005.
[4]. Fan Yang, Huaibei Zhou, Lan Zhang, Jing Feng, An Improved Security Scheme in WMAN based on IEEE Standard 802.16, School of Computer, Wuhan University, Wuhan, China International School of Software Engineering, Wuhan, China.
[5]. Sen Xu, Manton Mathews, Chin-Tser Huang, Security Issues in Privacy and Key Management Protocols of IEEE 802.16, Department of Computer Science and Engineering University of South Carolina, Columbia, SC 29208, USA, 2006.
[6]. Michel Barbeau, WiMAX/802.16 Threat Analysis, School of Computer Science, Carleton University, Canada, October, 2005.
TS. Lê Nhật Thăng, KS. Hoàng Đức Tỉnh